Với người học tiếng Hán thì việc đầu tiên là phải chọn được từ điển. Vậy nên chọn từ điển như thế nào? Và một từ điển như thế nào được đánh giá là tốt, nhân dịp kirimaru hỏi, meo cuoi cũng sẽ post lên một bài, tất tần tật về từ điển, trong đó có cách chọn từ điển, tra từ điển và dùng từ điển như thế nào để nhà mình cùng tham khảo và chia sẻ. Và topic này sẽ bao gồm ba phần:
1. Chọn mua từ điển
2. Cách tra từ điển
3. Cách dùng từ điển

Từ điển Hán Việt mà mình đang dùng :

1. Quyển Từ điển Hán- Việt của tác giả Trương Văn Giới & Lê Khắc Kiều Lục -->nghĩa từ chuẩn mà phù hợp cho nhiều trình độ. Dầy nhưng gọn, vốn từ nhiều. Tra từ lại dễ dàng. Giá bìa 50.000VND

Mình thấy thế vì từ khi chưa biết chữ tiếng trung nào, cũng ko có thầy dạy, năm thứ 4 ĐH lơ ngơ đi mua quyển từ điển vớ phải quyển này. Mới học mà thấy dễ hiểu, dễ sử dụng. Cho đến bây giờ, hàng ngày cần tra từ là mình dùng quyển này.

2. Nếu ai mới học thì có thể mua thêm 1 quyển "Từ điển Hoa - Việt Thông Dụng" của "Khổng Đức & Long Cương" nhỏ gọn - bỏ túi. Mình mua năm thứ 5 ĐH - năm 2004 khi đó giá bìa là 24.000

Mình thích quyển này vì đặc điểm có hơn 3.000 chữ TQ cơ bản. Đây cũng chính là vốn từ đơn đủ để đọc các văn bản tài liệu cho nên nếu mới học và tự học có thể dùng nó để tra nhanh từ đơn. Ôn nhanh về nghĩa và nét viết khi lỡ quên. Đồng thời tự kiểm tra, gợi nhớ nhanh vốn từ của mình.

3. Quyển "汉越词典- TỪ ĐIỂN HÁN - VIỆT" 商务印书馆 2005 年。北京。Chủ biên: Hầu Hàn Giang & Mạch Vĩ Lương.Ko biết ở VN có bán ko?. Sách của TQ xuất bản. Giá bìa : 118 元.<=> 270.000 VND Khổ giấy to như A4.

Lúc mới sang bên đó học được nhà trường phát cho quyển này. Nhìn dầy và to mà "khóc thét"--> bỏ xó. Học suốt 1 năm mà vẫn mới tinh. Đến tận lúc gần thi mới sờ vào. Phát hiện ra là học để thi HSK thì quyển Từ Điển này cực hay:

- Với 1 từ đơn nó có đầy đủ các nghĩa : Từ nghĩa hay dùng đến nghĩa ít dùng(nhưng lại hay thi vào trong HSK).
- Có đầy đủ các từ ghép của từ đó. Với mỗi từ có luôn 1 ví dụ đặt câu-> giúp phân biệt được sự khác nhau về nghĩa và cách sử dụng giữa từ gần nghĩa, đồng nghĩa-> 1 đặc điểm chủ yếu và khó nhất trong học và thi HSK.
- Có đầy đủ cả các từ trong khẩu ngữ hay dùng. Cùng ví dụ thực tế->đọc là nhớ. Trong môn nghe của HSK cần phải hiểu rất nhiều ngữ cố định, khẩu ngữ.

Giờ về nhà thì tớ gần như bye bye quyển này rồi, Chả muốn sờ vào.

Nhưng các bạn mà học chuyên sâu về tiếng Trung thì quyển thứ 3 này rất tốt đấy.

Với người mới học bao giờ cũng nên có hai quyển từ điển, một quyển từ điển dầy và một quyền từ điển bỏ túi.
Quyền từ điển bỏ túi nên chọn tiêu chuẩn nhỏ, gọn, đầy đủ và dễ tra, khổ nhỏ, không nên quá dầy và quá nặng, từ có thể không cần nhiều nhưng cần chuẩn. Vì khi mới học bao giờ lên lớp cũng cần mang từ điển theo, khi gặp từ mới có thể tra luôn, hoặc từ nào chi nhớ phiên âm, hoặc chỉ nhớ cách viết có thể tra ngay trực tiếp. Như vậy sẽ học từ mới nhanh hơn và nắm bài chắc hơn.
Quyển từ điển dầy tra Trung Việt: cái này sẽ đi cả đời cùng bạn, nên tốt nhấn hãy chọn quyển từ điển nào chuẩn nhất, nhiều cách tra nhất và hữu dụng nhất. Làm sao khi học cao, học sâu vào chuyên ngành bạn vẫn có thể tra được.
Từ điển bổ trợ thêm: sau khi học sâu hơn năm thứ ba hoặc thứ tư trình độ chắc rồi nên sắm thêm một số từ điển khác nữa để bổ trợ thêm cho việc học, cụ thể đó là từ điển Việt Trung và Trung Trung.
Bản thân cá nhân mình sử dụng các quyển từ điển sau, nêu ra đây cho mọi người coi như một ví dụ tham khảo:
1.Từ điển bỏ túi:
Hiện tìm trên mạng có rất nhiều từ điển, nhưng mọi người nên tìm mua hai quyển sau, thứ nhất là về nội dung dịch tương đối chuẩn, thứ hai là có thể tra theo nhiều cách: tra bộ, tra phiên âm. Tương tự như một quyển từ điển lớn thu nhỏ lại, tiện cho việc mang đi học. Hoặc không cần dùng sâu thì khoảng tầm hai năm đầu bắt đầu học vẫn đủ dùng:
Tra Hán Việt:
Từ điển Hán Việt
Tác giả: Trương Văn Giới
Nhà xuất bản: Nxb Khoa học xã hội
Số trang: 1210
Kích thước: 10x15 cm
Trọng lượng: 770 gram
Bìa mầu xanh.

Tra Hán Hán: Cái này chỉ khuyên nên mua sau khi học hết năm thứ hai, vì nó tra từ hoàn toàn theo tiếng Hán, nhỏ gọn và dễ bỏ túi, mua ở Việt Nam cũng rất tiện. Vì đến năm thứ hai các thầy cô sẽ yêu cầu dùng tư duy tiếng Hán để giải nghĩa từ, hoặc muốn mở rộng thêm vốn từ bằng tiếng Hán thì dựa trên nghĩa đã biết về tiếng Việt có thể đối chiếu xem người Trung Quốc giải thích đơn giản hơn bằng tiếng Hán như thế nào, nên nó sẽ rất tốt cho việc luyện tư duy bằng tiếng Hán.

Tên từ điển: Tân Hoa Từ Điển (新华字典)
Mầu đỏ, Tra Trung – Trung
Bán rất nhiều trên hiệu sách Tràng Tiền tại Hà Nội
Nhà xuất bản: Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh

2.Từ điển dầy, dùng cả đời:
Cái này thì bạn bè mình có nhiều ý kiến lắm Mỗi người mua một quyển, có người chuộng dầy chuộng đắt, còn mình chuộng cái nào chuẩn, vốn từ đủ dùng và tra tiện. Nếu theo quan điểm cá nhân tớ thì nhà mình nên mua những quyển như sau:

2.1. Tra Trung Việt: Mình chỉ dùng đúng một quyển đó là
Từ Điển Trung Việt

Nhà xuất bản: Nxb Khoa học xã hội
Số trang: 1653
Kích thước: 16x24 cm
Trọng lượng: 1700 gram
Hình thức bìa: Cứng

Hiện giờ tra nhiều nên nát bươn rồi, không dám chụp lên cho mọi người. Cái hay của từ điển này so với các từ điển khác là:
- Nghĩa từ dịch trong cuốn từ điển này là dịch sang từ cuốn từ điển Hán ngữ hiện đại của Trung Quốc - quyển từ điển đáng tin cậy nhất, nhiều từ mới nhất và luôn luôn cập nhập theo năm của Trung Quốc, nên trong quá trình dịch có thể tra một vốn từ tương đối nhiều và phong phú, nghĩa dịch sát và chuẩn so với từ điển gốc, nếu như dịch tớ nghĩ mình cũng chỉ có thể diễn đạt được như thế thôi. Đồng thời dịch luôn cả câu ví dụ cách dùng của từ đó nữa. Đồng thời một từ được giải thích theo nhiều nghĩa khá đầy đủ.
- Có thể tra tứ giác hiệu mã, hay tra góc: Nếu chỉ cóưu điểm thứ nhất thì cuốn từ điển này sẽ không đáng để tớ chọn, nhưng vấn đề là nó có thể tra được theo góc. Cách tra góc này tớ sẽ giới thiệu ở phần sau, nhưng chỉ nói ở đây rằng, khi đã quen với việc tra từ bằng góc thì tốc độ tra từ sẽ giảm đi đến hơn một nửa, nếu như bạn phải tra một từ hán nét tương đối phức tạp và hoàn toàn mới, nghĩa là bạn chưa biết phiên âm, chưa biết nghĩa, và thậm chí còn khó xác định bộ thủ. Như bản thân mình biết thì hiện tại từ điển in giấy chỉ có mỗi cuốn này có thể tra tứ giác hiệu mã, tuy có một số từ khi tra vẫn bị sai số trang. Cái này khi tra mình đã gặp phải rồi. Nhưng đây làđiểm hay nhất mà mình khuyên ai muốn học sâu và học cao tiếng Hán nên mua, và với người mới học cũng nên mua, vì nghĩa dịch từ rất chuẩn, lại có cả ví dụ câu cụ thể và giải nghĩa cụ thể nữa.

2.2. Tra Việt Trung:
Nếu ai có bạn bên Trung quốc thì tớ khuyên nhờ mua quyển từ điển:

Từ điển Việt Hán (越汉词典)
Nhà xut bn:北京 : 商务印书馆
Tác gi何成
Hồi tớ mua giá niêm yết là 78 tệ, giờ thì chịu không biết giá bao nhiêu tại vật giá leo thang, hè hè! Cứ nói với mấy bạn Trung Quốc thông tin như trên là các bạn ấy biết ngay, bìa mầu cà phê (theo quan điểm mầu của tớ)
Còn nếu không mua được từ Trung Quốc thì mọi người dùng quyển của Việt Nam cũng được, có thể mua ở Việt Nam (Cái này bạn tớ dùng, tớ không dùng nhé, vì có quyển trên rồi)
Từ Điển Việt - Hán Hiện Đại
Tác giả:Lê Khắc Kiều Lục
Nxb:Khoa học xã hội
Số trang: 1520
Kích thước: 14.5x20.5cm
Trọng lượng: 1400 g
Cái này theo bạn tớ thì tra từ nghĩa khá chuẩn, và nếu tác gia này thì yên tâm mua đi nhé, không vấn đề gì đâu.

2.3. Từ điển bổ trợ:
Cái này thì ai cần tìm hiểu thêm sâu thì mua thôi, vì cũng ở Trung quốc nốt, ví dụ như hôm kirimaru hỏi về từ wảng vàwàng ấy, mình cũng phải check lại quyển này xem thế nào cho chính xác rồi mới trả lời, vì nó như quyển Từ điển Trung Việt đã nói ở trên ấy, nhưng là Tra Trung – Trung và giải thích cụ thể hơn một chút.

Tên từ điển: 现代汉语词典
Nhà xuất bản: 北京 : 商务印书馆
Cái này thì cũng là hàng độc nốt, vì vậy chỉ cần đưa hai thông tin như trên, các bạn trung quốc cũng sẽ biết ngay để mua giúp, đợt mình mua là 60 tệ. Quyển này thì phải chú ý năm xuất bản, vì nó luôn có một phần sau cùng là nghĩa mới và từ mới, phần này sẽ in riêng mầu hồng nhạt, cập nhật những từ mới nhất dùng trong cuộc sống hiện đại, hoặc mới nẩy sinh ra trong xã hội Trung quốc, nên phần này sẽ bổ sung theo năm, tốt nhất nên nhờ mua quyển xuất bản mới nhất của nó là được.

Tạm hôm nay thế đã, hôm nào rảnh sẽ post tiếp phần cách tra từ điển cho nhà mình sau. Tiện đây cũng nói thêm: Kinh nghiệm sau khi kết thúc bốn năm đại học vàđi làm, thì tớ hiện chỉ dùng nhiều nhất ba từ điển:
1. Từ Điển Trung Việt Nhà xuất bản: Nxb Khoa học xã hội: Cái này tớ dùng khi gặp từ khó và cần tra nhanh, chủ yếu dùng để tra góc (Tứ giác hiệu mã)

2. Từ điển bản điện tử Lạc Việt CVH 2005. Cái này thìầm ĩ trong forum rồi nên không lấy thêm đất ở đây làm gì, tớ dùng cái này tra hầu như toàn bộ: phiên âm bằng tiếng hán, tra bộ, tra phiên âm…dùng y như từ điển Trung việt, và Việt Trung tích hợp, mỗi tội nó không có tra góc, nên nhiều lúc vẫn phải dùng quyển trên. Còn đi công tác thì hầu như không mang từ điển đi, chỉ mang theo máy tính có cài Lạc Việt là ok rồi.

3. Từ điển thieuchuu offline: Cái này trên forum cũng đã có bài, không nói lại nữa, vì công việc cần dịch thơ hoặc văn cổ, liên quan đến văn hoá truyền thống của Trung Hoa thì tớ hay dùng cái này song song với Lạc Việt, nhưng chỉ dùng đúng một chức năng thôi, đó làChuyển đổi câu chữ Hán, cóp cả câu văn dài, hoặc cả bài thơ vào và dịch. Chỉ ra từ phiên âm Hán Việt thôi, nhưng kích vào từng chữ lại có giải thích nghĩa rất cụ thể ở dưới. Ai dùng qua chắc sẽ biết cái tiện lợi của nó, còn chưa dùng đến thì nó cũng chỉ là cài từ điển không hữu dụng mà thôi.

Còn các quyển còn lại tớ đã giới thiệu ở trên thì ngày càng ít dùng đi rồi, mà gắn với cái máy tính và từ điển điện tử nhiều hơn. Có lẽ đó là thời buổi thay đổi, nên thói quen cũng thay đổi nốt. Kinh nghiệm bản thân là vậy, nhà mình cứ suy nghĩ kỹ xem có nên bỏ đống tiền mua từ điển không nhé, hay chỉ cần cài Lạc Việt làok rồi?

Chúý: Các quyển từ điển đưa ra ở trên có rất nhiều quyển từ điển khác trùng tên, nhưng có hai cái không bao giờ trùng là Tác giả và Nhà xuất bản, nên khi mua phải chúý kỹ tác giả và nhà xuất bản nhé!

Hiện cách tra từ điển có bốn cách:
1. Tra theo phiên âm alphabe
2. Tra theo bộ chữ
3. Tra theo Tổng số nét bút
4. Tra theo góc hay còn gọi là tứ giác hiệu mã.

Ba cách tra trên sẽ hướng dẫn cụ thể sau ở phần hướng dẫn cách tra từ điển Lac Việt - mtd2005 - CV bản điện tử, còn ở phần hai này sẽ giới thiệu sâu hơn về cách thứ tư, cách khó nhất trong bốn cách, nhưng sau khi học xong nắm chắc thì tốc độ tra từ sẽ nhanh hơn nhiều, vì khi gặp từ phức tạp khó đoán bộ và nét, hoặc từ hoàn toàn mới chưa gặp bao giờ thì có thể dùng tra bằng góc để tìm ra từ cần tìm.
Để tra được theo góc trong tay bạn phải có quyển từ điển Trung Việt do nhà xuất bản khoa học xã hội in, giới thiệu cụ thể xem phần một trong topic này, hiện bản giấy theo mình biết có mình quyển đó mới có thể tra bằng góc, ngoài ra còn có Hanosoft bản điện tử có thể tra góc nhưng mình vẫn chưa tìm hiểu kỹ được cách dùng, chỉ quen dùng từ điển giấy để tra.
Cách học tra từ điển theo góc:
- Mới đầu đọc kỹ bảng các nét và số tương ứng theo nội dung post sau đây, và hướng dẫn tai trang 68 của cuốn từ điển Trung việt, sau đó lật sang trang 69 có phần B Cách tra chữ, nên lấy các chữ trong đó làm mẫu để luyện, nhưng phải tuyệt đối không được xem trước, chỉ viết ra, tự đoán góc xong so lại với họ, tìm hiểu xem mình đúng và sai ở đâu, sau đó tự chon từ bất kỳ đoán góc, nếu đoán chỉ được một góc mà phải là góc thứ nhất và thứ hai mới được thì lật đến số góc tương ứng, tìm lần theo bảng ra từ cần tìm, xem mình đã đoán sai so với họ vì sao, dần dần sẽ học được cách tra.
Cách này tương đối khó, vì bản thân mình, đến giờ chỉ tra được bốn góc ngoài, góc trong chưa học được, và vẫn tra sai góc như thường dù luyện bốn năm rồi, nên có tra sai lúc đầu là chuyện thường, về sau ắt sẽ khá hơn


TỨ GIÁC HIỆU MÃ
四角號碼輸入法

Tứ giác hiệu mã nguyên thủy là cách tra chữ Hán (chủ yếu là phồn thể) do học giả Vương Vân Ngũ 王雲五 phát minh và được phổ biến ở Ðài Loan hơn 50 năm qua. Cách tra nổi tiếng này dùng 10 chữ số từ 0 đến 9 để gán cho nét bút ở bốn góc của mỗi chữ Hán. Với Tứ giác hiệu mã, ta có thể tra được chữ Hán bất chấp ngữ âm và ngữ nghĩa.

1. NGUYÊN TẮC CỦA TỨ GIÁC HIỆU MÃ

Chữ Hán có tự dạng vuông, nghĩa là mỗi chữ có 4 góc, và hình nét ở mỗi góc rất đa dạng. Vương Vân Ngũ đã quy ước dùng 10 chữ số (từ 0 đến 9) để gán cho 10 nhóm nét bút có thể xuất hiện ở từng góc. 10 hiệu mã quy ước là:


Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 621x334.

CHÚ Ý:

Số 1, 2, 3 là nét đơn. Số 0, 4, 5, 6, 7, 8, 9 là nét phức (do hai ba nét hợp thành). Chữ 亠 là 0 (chứ không phải 3); 寸là 4 (chứ không phải 2); ㄏlà 7 (chứ không phải 2); là 8 (chứ không phải 3 và 2); 小là 9 (chứ không phải 3 và 3).

Ðể giúp độc giả dễ nhớ 10 mã số này, quyển từ điển Từ Vị 辭彙của Ðài Loan (Văn Hóa Ðồ Thư Công Ty) in kèm Khẩu quyết của Tiến sĩ Hồ Thích 胡適 (1891-1962):

Bút hoạch hiệu mã ca
筆 劃 號 碼 歌

Nhất hoành, Nhị thùy, Tam điểm nại,
一 橫 二 垂 三 點 捺
Ðiểm hạ đái hoành biến Linh đầu,
點 下 帶 橫 變 0 頭
Xoa Tứ, tháp Ngũ, phương khối Lục,
叉 四 插 五 方 塊 六
Thất giác, Bát bát, Cửu thị tiểu.
七 角 八 八 九 是 小

Đại ý:
- Một (1) là nét ngang; Hai (2) là nét sổ dọc; Ba (3) là nét chấm và nét mác. (Nại= ấn thành chấm, hay ấn đè thành nét mác).
- Nét ngang dưới nét chấm biến thành chữ đầu, là O.
- Nét giao nhau là Bốn (4); Nét hất từ dưới xiên lên phải là Năm (5); Nét hình khối vuông là Sáu (6). (Tháp= ghim, cắm vào, xóc)
- Bảy (7) là góc; Tám (8) là chữ bát; Chín (9) là chữ tiểu.

Lê Anh Minh cải biên lại cho người Việt dễ nhớ:

Bài ca về mã số của nét bút

Một ngang, Hai sổ, Ba điểm mác,
Ðiểm trên ngang dưới tức Không đầu,
Bốn giao, Năm xóc, Sáu vuông vức,
Bảy góc, Tám bát, Chín tiểu tâm.

2. CÁC QUY TẮC

ÐIỀU 1: Thứ tự mã ở bốn góc được xếp như sau:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 501x77.

Thí dụ: chữ đoan có mã là 0212. Các chữ khác:



ÐIỀU 2: Phần trên hay phần dưới chữ là nét đơn hay nét phức, dù ở vị trí góc nào, số mã cũng tính cho góc trái còn góc phải là 0. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 606x286.

ÐIỀU 3: Cùng một nét đã tính cho góc nào rồi, thì góc kia sẽ tính là 0. Thí dụ:



ÐIỀU 4: Nếu các chữ 行 囗 門 鬥 rỗng thì tính đủ 4 góc của chúng; nếu trong ruột có chứa bộ phận nào nữa thì hai góc đáy phải tính theo bộ phận này. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 552x96.

Tuy nhiên, điều trên sẽ không hiệu lực nếu phía bên ngoài các chữ 行 囗 門 鬥 có thêm số nét khác. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 544x38.

ÐIỀU 5: Các chữ trên có 宀戶, tức là dưới nét chấm có nét ngang có liên tiếp với nét khác, thì tính là 3, chứ không tính là 0. Do đó hai góc trên là 3 và 0 (vì bên trái tính rồi thì bên phải là 0). Tuy nhiên các chữ có ㄬthì hai góc trên tính 00. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 552x36.

ÐIỀU 6: Các chữ 尸 皿 門 几v.v., ngay góc vuông còn kéo dài ra nữa thì tính là 7 (góc) không tính là 6 (vuông). Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 552x38.

ÐIỀU 7: Hai đầu của nét góc (7) tùy theo hình nét mà tính riêng chứ không tính là 7. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 548x42.

ÐIỀU 8: Nét 人(8) nhưng trên có nét cắt ngang (tức là 大) thì tính là 43, không tính là 8. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 548x44.

ÐIỀU 9: Nét độc lập (hoặc song song), không kể trồi lên cao hay hạ xuống thấp, chỉ tính nét bìa trái hay bìa phải của nó. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 550x36.

ÐIỀU 10: Nét bìa trái hay phải có nét khác trồi lên hay hạ xuống thì phải tính nét trồi lên hay hạ xuống đó làm mã. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 546x36.

ÐIỀU 11: Nếu ở góc là hai nét phức kết hợp nhau thì tính nét trồi lên hay hạ xuống làm mã. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 546x40.

ÐIỀU 12: Nếu chữ có nét phiệt và nại (như 八 人 入 ) xòe rộng ra một bên hay hai bên thì phải tính mã ở phần bên dưới đó. Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 550x42.

ÐIỀU 13: Nét 勹ㄙ ở bên trái thì tính theo nét phẩy (2), còn ở bên phải thì tính theo nét góc (7), nét chấm (3). Thí dụ:

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 548x42.











Trong bài viết lần trước, mình đã giới thiệu với cả nhà một bài hướng dẫn cụ thể về cách tra từ điển theo tứ giác hiệu mã là cách tra nhanh nhất cũng là khó học nhất của dân tiếng trung, hôm nay mình sẽ giới thiệu kỹ sâu thêm về một cách tra thứ hai, là cách tra thông dụng nhất, và phổ biến nhất, mà được nhiều mem mình thích sử dụng, vì nó không quá khó để học và hầu như bất kỳ một cuốn từ điển nào bạn có trên tay, cũng đều sẽ có phần tra theo bộ thủ như một phần không thể thiếu được của từ điển.
Để tra được theo bộ thủ, thì yêu cầu đầu tiên đặt ra với nhà mình có tất cả hai yêu cầu cơ bản:
1. Nhớ được các bộ thủ của tiếng Hán
2. Xác định chính xác chữ Hán cần tra sẽ tra theo bộ thủ nào, chính vì vậy trong phần tiếp theo này, tớ sẽ giới thiệu một bài cóp nguyên văn trên trang http://vietsciences.free.fr/sinhngu/...bothuhantu.htm

của tác gia Lê Anh Minh để nhà mình nắm chắc thêm về bộ thủ tiếng Hán, đồng thời có thể dễ dàng đối chiếu với các ví dụ ở phần hướng dẫn xác định bổ thủ trong chữ Hán.

Sau bài học cơ bản về các bộ thủ, tớ sẽ đưa ra bài dịch về phương pháp xác định bộ thủ trong chữ Hán mà tớ dịch dựa theo bài của tác giả Trần Chi Trấn, vì tớ thấy rất nhiều trang web cũng như diễn đàn nói về phương pháp tra bộ thủ, nhưng có thể do tớ chưa biết hoặc chưa thấy diễn đàn nào hay trang web việt nam nào viết rõ về các quy tắc xác định bộ thủ cần tra, nên trong diễn đàn này, và trong bài viết này, tớ sẽ cung cấp luôn các nguyên tắc xác định bộ thủ cho nhà mình, hy vọng nó sẽ có ích cho cả người mới học và người đã học qua tiếng Hán!

Hy vọng tài liệu này sẽ có ích cho ai đang học!