Chuyện người Toại khoan gỗ lấy lửa





Trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc, có rất nhiều anh hùng mang lại hạnh phúc cho nhân dân bằng trí tuệ, dũng cảm và nghị lực, người Toại là một trong những anh hùng như vậy.
Trong thời kỳ man rợ hoang sơ viễn cổ, mọi người chưa biết có lửa, cũng chưa biết dùng lửa. Đến đêm, bốn bề tối đen như mực, tiếng gào thét của dã thú hết đợt này đến đợt khác, mọi người nằm co quắp lại với nhau, vừa lạnh vừa sợ hãi. Do không có lửa, mọi người chỉ biết ăn sống, thường xuyên mắc bệnh, tuổi thọ rất ngắn.
Trên trời có một vị thần tên là Phục Hy, thần thấy cuộc sống của mọi người gian khổ như vậy cảm thấy rất đau lòng, thần muốn cho mọi người biết công dụng của lửa. Do đó thần Phục Hy liền hoá phép thần thông, giáng một trận mưa lớn ở trong rừng. Rồi cùng với một tiếng nổ đanh thép, sét đánh vào một thân cây, làm thân cây bốc cháy rồi nhanh chóng lan ra thành đám lửa bừng bừng. Mọi người sợ hãi vì sét đánh và lửa cháy, bỏ trốn tán loạn. Không bao lâu, mưa tạnh, bóng đêm trùm xuống, mặt đất sau cơn mưa càng thêm giá lạnh. Những người bỏ chạy lại tụ tập vào một nơi, họ sợ hãi nhìn cây cối bị đốt cháy. Lúc này có một chàng thanh niên phát hiện, tiếng gào thét của dã thú xuất hiện xung quanh ngày thường đã không còn, anh nghĩ: “Phải chăng dã thú sợ thứ phát sáng kia?” Do đó, anh dũng cảm đến gần đám lửa, phát hiện trên người ấm hẳn lên. Anh phấn khởi gọi mọi người: “Mau đến đây, lửa không đáng sợ chút nào cả, nó đã mang lại ánh sáng ấm áp cho chúng ta.” Lúc này, mọi người lại phát hiện dã thú bị đốt chết cách đó không xa, toả mùi thơm phưng phức. Mọi người tụ tập bên cạnh đống lửa, chia nhau ăn thịt dã thú bị thui, thấy mình chưa bao giờ được thưởng thức hương vị như vậy. Mọi người đã cảm thấy sự đáng quý của lửa, họ nhặt cành cây đốt cháy giữ ngọn lửa. Hàng ngày đều có người luân phiên nhau giữ mồi lửa, không để nó tắt ngấm. Thế nhưng có một ngày, người canh lửa ngủ quên, lửa đốt hết cành cây, rồi tắt ngấm. Mọi người lại rơi vào cảnh đêm tối và giá lạnh, rất đau khổ.
Trên trời thần Phục Hy đã biết tất cả những việc đã xảy ra, thần báo mộng cho người trẻ tuổi đầu tiên phát hiện ra công dụng của lửa, nói rằng: “Tại phương tây xa xôi có nước Thuý Minh, ở đó có ngọn lửa giống, anh có thể đến nơi đó lấy lửa giống mang về.” Chàng thanh niên tỉnh dậy, nhớ lại lời nói của thần trong giấc mộng, bèn quyết tâm đi nước Thuý Minh tìm giống lửa.
Chàng thanh niên trèo đèo lội suối, đi qua sông lớn, rừng rậm, trải qua biết bao gian khổ, cuối cùng đã đến được nước Thuý Minh. Thế nhưng nơi đây không có ánh sáng, không có ngày đêm, bốn bề tối om, không thấy lửa đâu cả. Chàng thanh niên rất thất vọng, liền ngồi nghỉ dưới một gốc cây “Thuý”. Bỗng nhiên, chàng thanh niên thấy trước mắt có ánh sáng nhấp nháy, chiếu sáng cả vùng xung quanh. Anh liền đứng dậy, đi tìm nguồn sáng. Lúc này anh phát hiện trên cây gỗ thuý, có mấy con chim to đang dùng mỏ ngắn và cứng mổ sâu trên thân cây. Mỗi lần chim mổ mỏ xuống thân cây đều loé lên tia sáng. Chàng thanh niên thấy vậy, liền nảy ra một ý nghĩ. Anh lập tức bẻ một số cành cây gỗ Thuý, dùng cành cây khoan thân cây, cành cây quả nhiên phát ra tia sáng, thế nhưng không cháy thành lửa. Chàng thanh niên không nản lòng, anh tìm đủ loại cành cây, dùng cành cây khác nhau cọ sát với thân cây. Cuối cùng, cành cây đã bốc khói, sau đó đã bốc lửa. Chàng thanh niên vui mừng đến chảy nước mắt.
Chàng thanh niên trở lại quê hương, mang lại cách khoan gỗ lấy lửa—giống lửa không bao giờ tắt cho mọi người, từ đó mọi người không còn phải sống trong cảnh giá lạnh và sợ hãi nữa. Mọi người khâm phục lòng dũng cảm và trí tuệ của chàng thanh niên này, tiến cử anh làm thủ lĩnh, gọi anh là “Người Toại”, ý là người lấy lửa.
Chuyện vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn Trong lịch sử phong kiến lâu dài tại Trung Quốc, ngôi vua đều do con vua kế thừa. Nhưng trong thần thoại Trung Quốc giữa ba ông vua sớm nhất vua Nghiêu, vua Thuấn và vua Vũ, việc truyền ngôi lại không phải có dòng máu. Ai có đức tài thì người đó được tiến cử kế thừa ngôi vua. Vua Nghiêu là ông vua đầu tiên trong truyền thuyết Trung Quốc. Khi về già vua Nghiêu muốn tìm một người kế vị vua, do đó liền triệu tập thủ lĩnh các bộ lạc đến thảo luận.
Sau khi vua Nghiêu nói dự định của mình, có người tên là Phóng Tề nói: “Con ngài Đan Chu là người tiến bộ, kế thừa ngôi vua rất thích hợp.” Vua Nghiêu nghiêm túc nói: “Không được, con ta kém đức hạnh, hay tranh cãi với người.” Một người khác nói: “Cộng Công quản thuỷ lợi là người rất khá.” Vua Nghiêu lắc đầu nói: “Cộng Công giỏi ăn nói, bề mặt cung kính, nhưng trong lòng lại nghĩ khác. Dùng người như vậy, tôi không yên tâm.” Lần thảo luận này không có kết quả, vua Nghiêu tiếp tục tìm người kế thừa mình.
Qua một thời gian, vua Nghiêu lại họp các thủ lĩnh bộ lạc. Lần này có mấy vị thủ lĩnh tiến cử một thanh niên bình thường tên là Thuấn. Vua Nghiêu gật đầu nói: “Ờ, ta cũng nghe nói người này rất tốt. Các ngươi có thể kể cho ta biết chuyện của anh ta được không?” Mọi người liền kể tình hình của chàng Thuấn: Cha Thuấn là rất hồ đồ, mọi người gọi ông ta là Cổ Tẩu (Ý là ông già mù). Mẹ đẻ của chàng Thuấn chết sớm, mẹ kế đối xử rất tệ với Thuấn. Em trai do mẹ kế sinh ra tên là Tượng, ngạo mạn hết chỗ nói, nhưng lại rất được Cổ Tẩu nuông chiều. Chàng Thuấn sống trong một gia đình như vậy, nhưng đối với cha, mẹ kế và em trai đều rất tốt. Bởi vậy, mọi người cho rằng chàng Thuấn là người đức hạnh tốt.
Vua Nghiêu nghe mọi người kể về Thuấn liền quyết định thử thách Thuấn. Vua gả hai đứa con gái của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn, còn xây kho lương thực cho Thuấn, chia cho Thuấn nhiều bò cừu. Mẹ kế và em trai Thuấn thấy thế vừa thèm vừa tức tối, cùng cha Cổ Tẩu mấy lần dùng mưu kế muốn hãm hại Thuấn.
Có một lần, Cổ Tẩu gọi Thuấn leo lên sửa nóc kho lương thực. Khi Thuấn dùng thang trèo lên nóc kho, Cổ Tẩu ở dưới đốt lửa, muốn đốt chết Thuấn. Thuấn ở trên nóc kho thấy lửa cháy, liền tìm thang để xuống, nhưng không thấy tháng đâu. May mà Thuấn có mang theo hai chiếc nón đội che nắng. Thuấn hai tay cầm hai chiếc nón, như con chim giang cánh nhảy xuống. Nón bay theo gió, Thuấn nhẹ nhàng rơi xuống mặt đất, không hề bị thương.
Cổ Tẩu và Tượng không cam lòng, họ lại gọi Thuấn đi khơi giếng. Sau khi Thuấn nhảy xuống giếng, Cổ Tẩu và Tượng ở bên trên ném nhiều đất đá xuống, muốn lấp giếng, để chôn sống Thuấn ở dưới, không ngờ sau khi xuống giếng, Thuấn đã khoét ngách giếng chui ra, an toàn trở về mặt đất.
Tượng không biết Thuấn đã thoát chết, hớn hở về nhà nói với Cổ Tẩu: “Phen này anh trai chắc chết rồi, diệu kế này do con nghĩ ra. Bây giờ chúng ta có thể chia tài sản của anh trai rồi.” Nói xong, Tượng liền đi về nhà Thuấn ở, nào ngờ, khi bước vào nhà, thấy Thuấn đang ngồi gẩy đàn bên giường. Tượng trong bụng kinh ngạc, nhưng vẫn giả vờ nói: “Ôi, em nhớ anh biết bao.”
Thuấn cũng tảng lờ như không có chuyện gì xảy ra, nói: “Chú đến rất đúng lúc, tôi bận nhiều việc, đang muốn chú giúp cho ít việc.” Sau đó, Thuấn vẫn đối xử nhã nhặn với cha mẹ và em trai như trước, Cổ Tẩu và Tượng cũng không dám hãm hại Thuấn nữa.
Sau này, vua Nghiêu lại nhiều lần khảo sát Thuấn, cho rằng Thuấn quả là một người đức hạnh lại có tài, quyết định truyền ngôi vua cho Thuấn. Sự nhường ngôi này, được các nhà sử học Trung Quốc gọi là “Thiền nhượng”.(Tức nhường ngôi)
Sau khi vua Thuấn lên ngôi, cần cù tiết kiệm, lao động như dân thường, được mọi người tin cậy. Qua mấy năm, vua Thuấn chết, vua Thuấn vẫn muốn nhường lại ngôi vua cho con trai vua Nghiêu là Đan Chu, nhưng mọi người đều không tán thành. Khi vua Thuấn về già, cũng dùng cách tương tự, lựa chọn Vũ có đức có tài làm người kế thừa mình.
Mọi người tin rằng, trong thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ, thiên hạ không có tranh giành lợi ích, quyền lực, vua và người bình thường đều sống cuộc sống tốt đẹp và giản dị.
Chuyện năm ngọn núi thần Sau khi Nữ Oa, thuỷ tổ loài người tạo ra con người, luôn luôn vô sự thái bình. Bỗng một hôm, Trời Đất đâm mạnh vào nhau, trên Trời bị vỡ ra một mảng lớn, Mặt Đất cũng bị bùng nổ nứt ra và lún xuống, ngọn lửa từ trong lòng Đất phun ra, đốt cháy cây rừng; nước lũ từ đáy sâu phun lên, trôi dạt núi đồi; yêu ma quỷ quái, ác cầm mãnh thú thừa cơ hoành hành, loài người rơi vào cảnh nước sôi lửa bỏng. Nữ Oa nghe thấy tiếng cầu cứu của loài người, bà trước tiên giết chết yêu ma quỷ quái và ác cầm mãnh thú, sau đó dập tắt nạn nước, tiếp đó tiến hành công trình vá Trời vĩ đại.
Nữ Oa đi các nơi kiếm củi đốt, chở đến nơi Trời bị nứt, xếp đống cao bằng trời, sau đó đi tìm đá xanh giống với màu của Trời, do trên Mặt Đất không có nhiều như vậy, đành phải nhặt đá trắng, đá vàng, đá đỏ và đá đen, đặt lên trên đống củi. Nhân ngọn lửa phun từ trong lòng Đất còn chưa tắt, bà dùng một cây lớn châm lửa đốt đống củi, ngọn lửa bốc cao ngùn ngụt, chiếu sáng cả vũ trụ, đá năm màu đều bị nung đỏ. Dần dần, đá bị chảy ra, như nước đường chảy ra trong kẽ nứt của Trời. Đợi đến khi đống củi đốt hết, vết nứt trên Trời cũng được vá xong.
Mặc dù Trời Đất bị vỡ đã được Nữ Oa vá xong, nhưng không thể khôi phục hình dạng ban đầu. Bầu Trời nghiêng một chút về phía tây bắc, bởi vậy, Mặt Trời và Mặt Trăng đều không tự giác chạy về hướng đó; Mặt Đất bị lún xuống một hố sâu về hướng đông nam, do đó nước của các con sông lớn nhỏ đều không tự chủ chảy về hướng đông nam, nhiều nước đọng tại nơi đó, tạo thành biển cả.
Tại phía đông Bột Hải, có một rãnh sâu không thấy đáy, tên là “Quy Khư”. Bất kể là nước trên Mặt Đất hay nước trong biển, đều chảy về nơi đây. Nước trong “Quy Khư” lại lúc nào cũng giữ trạng thái như nhau, vừa không tăng lên, cũng không giảm xuống. Bởi vậy cũng không tràn ra ngoài gây lụt lội cho loài người.
Trong “Quy Khư” có năm ngọn núi thần, là “Đại Dư”, “Viên Kiểu”, “Phương Hồ”, “Doanh Châu” và “Bồng Lai”, mỗi ngọn núi thần cao ba vạn dặm, khoảng cách giữa các ngọn núi là 7 vạn dặm. Trên núi có cung điện làm bằng vàng, có hàng lan can điêu khắc bằng đá quý, nhiều thần tiên sống ở trên đó.
Tất cả chim, thú trên núi thần đều có màu trắng, trên núi còn có nhiều cây lạ lùng, quả của những cây này là đá ngọc và ngọc trai, hương vị rất ngon, người trần ăn vào có thể trẻ mãi không già. Các thần tiên đều mặc áo trắng tinh, trên lưng có cánh nhỏ. Bình thường các vị thần tiên này ở trên biển, dưới trời xanh, bay lượn tự do như chim, đi lại giữa năm ngọn núi thần, thăm thú bạn bè thân thích của họ. Cuộc sống của các vị thần tiên vui vẻ hạnh phúc.
Nhưng trong cuộc sống vui vẻ hạnh phúc đó, cũng có một điều phiền muộn. Nguyên là năm ngọn núi này đều trôi nổi trên biển cả, bên dưới không có gốc, mỗi khi có gió lớn, liền trôi dạt khắp nơi, điều này gây bất tiện cho các vị thần tiên. Do vậy họ cử đại diện lên kể khổ với Thiên Đế. Thiên Đế cũng sợ mấy ngọn núi thần này trôi đến chân Trời, các thần đều không có nhà ở. Do đó dặn thần biển “Ngung Cường” cử 15 con rùa, đi đội năm ngọn núi thần này trên mai rùa. Mỗi ngọn núi thần do một con rùa đội lên, hai con khác chỉ đứng bên cạnh, 6 vạn năm thay phiên nhau một lần. Như vậy, núi thần đã ổn định, các thần tiên sống trên núi đều vui mừng hớn hở.
Không ngờ có một năm, một người khổng lồ đến từ “Nước Long Bá”, nước người khổng lồ đến Quy Khư câu cá. Người khổng lồ cao như ngọn núi thần, lấy cành câu liên tiếp câu lên 6 con rùa. 6 con rùa này vừa vặn là rùa đội núi thần. Người khổng lồ bất chấp tất cả, mang rùa về nhà. Hai ngọn núi thần “Đại Dư” và “Viên Kiểu” bị mất rùa nên bị gió thổi đến Bắc Cực, chìm xuống biển. Các thần tiên sống trên hai ngọn núi thần này đều vội vã dọn nhà, mang theo đồ đạc bay đi bay lại trên bầu Trời, mệt vã mồ hôi.
Thiên Đế biết chuyện này, nổi giận thu nhỏ thân người của người khổng lồ “Nước Long Bá”, để họ không còn sinh chuyện. Ba ngọn núi thần còn lại vì có rùa đội nên không xảy ra chuyện gì, đến nay vẫn đứng sừng sững ven biển miền đông Trung Quốc.
Chuyện Bàn Cổ mở ra Trời Đất





Truyền thuyết thời thái cổ, Trời Đất không chia, cả vũ trụ như một quả trứng lớn, bên trong hỗn độn, đen tối một màu, không phân chia trên dưới phải trái, đông nam tây bắc. Nhưng trong trứng gà thai nghén một anh hùng vĩ đại, đó là Bàn Cổ khai thiên lập địa. Bàn Cổ thai nghén 18 nghìn năm trong trứng gà, cuối cùng đã bừng tỉnh từ trong giấc ngủ say đắm. Anh mở mắt ra, thấy xung quanh tối đen như mực, cả người nóng nực khó chịu, rất khó thở. Anh muốn đứng dậy, nhưng vỏ trứng gà bọc chặt lấy thân anh, không sao duỗi được chân tay. Bàn Cổ nổi giận, nắm lấy một chiếc rìu có sẵn, dùng sức vung lên, chỉ nghe một tiếng nổ lớn, long tai nhức óc, quả trứng gà bị vỡ, trong đó thứ nhẹ và trong không ngừng bay lên, biến thành Trời, một số thứ nặng và đục thì từ từ lắng xuống, biến thành Đất.
Bàn Cổ đã khai thiên lập địa, rất vui mừng, nhưng anh sợ Trời Đất lại hợp lại với nhau, liền lấy đầu đội Trời, chân đạp đất, hiển thần thông, một ngày chín biến hoá. Anh mỗi ngày cao một trượng, Trời cũng mỗi ngày lên cao một trượng, Đất cũng dày thêm một trượng. Như vậy đã qua 18 nghìn năm. Lúc này Bàn Cổ đã trở thành người khổng lồ đầu đội Trời, chân đạp Đất, thân người cao chín vạn dặm. Cứ như vậy không biết lại trải qua bao nhiêu vạn năm, cuối cùng Trời đất trở nên vững chắc, sẽ không hợp lại với nhau nữa. Lúc này Bàn Cổ mới yên tâm. Nhưng vị anh hùng khai thiên lập địa này đã kiệt sức, không còn sức để đứng vững nữa, thân hình khổng lồ của anh ngã xuống Đất.
Bàn Cổ sắp chết, toàn thân xảy ra biến đổi to lớn. Mắt trái của anh biến thành Mặt Trời đỏ chói, mắt phải trở thành Mặt Trăng trắng ngần, trút hơi thở cuối cùng biến thành gió và mây, tiếng nói phát ra cuối cùng biến thành tiếng sấm, tóc và râu của anh biến thành các vì sao lấp lánh, đầu và tay biến thành bốn cực Mặt Đất và núi cao, máu trở thành sông ngòi, đường gân biến thành đường sá, bắp thịt trở thành đất đai phì nhiêu, da và lông trở thành cây cối hoa cỏ, răng và xương trở thành vàng bạc đồng sắt, đá quý, mồ hôi của anh trở thành nước mưa và sương mai. Từ đó bắt đầu có thế giới.
Chuyện Nữ Oa tạo ra con người



Trong thần thoại Hy Lạp cổ, Prô-mê-thêu đã sáng tạo ra con người, trong thần thoại Ai Cập cổ, con người đã ra đời do được thần gọi, trong thần thoại Do-thái, Giô-hô-va đã sáng tạo ra con người, vậy thì trong thần thoại cổ Trung Quốc, con người đã được ra đời như thế nào? Điều này là công của nữ thần thân người đuôi rồng mang tên Nữ Oa. Tương truyền sau khi anh hùng Bàn Cổ khai thiên lập địa, Nữ Oa đã du ngoạn đó đây giữa Trời Đất. Lúc đó, mặc dù trên Mặt Đắt đã có sông núi cây cỏ, có chim thú sâu cá, nhưng vẫn không sinh động hoạt bát, bởi vì trên Trái Đất còn chưa có loài người. Một hôm, Nữ Oa đi lại trên Mặt Đất hoang vắng tĩnh mịch, trong lòng cảm thấy rất cô đơn, bà cảm thấy phải tăng thêm thứ gì đó có sinh khí hơn cho Trời Đất.
Nữ Oa bay lượn trên Mặt Đất, bà yêu mến cây cối hoa cỏ, song bà càng say sưa hơn với chim thú sâu cá hoạt bát hơn và có sức sống hơn. Sau khi quan sát chúng, Nữ Oa thấy sáng tạo của Bàn Cổ còn chưa hoàn chỉnh, trí tuệ của chim thú sâu cá còn không sao làm bà hài lòng. Bà phải sáng tạo ra sinh linh xuất sắc hơn bất cứ sự sống nào.
Nữ Oa bay lượn dọc theo sông Hoàng Hà, cúi đầu thấy bóng dáng xinh đẹp của mình, bất giác vui mừng. Bà quyết định dùng bùn dưới sông nặn một người đất theo hình dạng của mình. Nữ Oa sáng dạ và khéo tay, chẳng mấy lúc đã nặn được nhiều người đất. Những người đất này hầu như giống bà, chỉ khác là bà nặn cho họ đôi chân phối hợp với đôi tay, để thay thế đuôi rồng. Nữ Oa thổi hơi tiên vào những người đất nhỏ này, những người đất này liền được tiếp sức sống, đã “Sống” lại, trở thành những thứ nhỏ có thể đứng thẳng người đi lại, biết nói, thông minh khéo léo, Nữ Oa gọi họ là “Người”. Nữ Oa tiếp dương khí lên một số người trong đó—một loại yếu tố tính đực thính đánh nhau trong giới thiên nhiên, do đó họ đã trở thành đàn ông; còn trên một số người khác, bà lại tiếp âm khí--một loại yếu tố tính cái hiền lành trong giới thiên nhiên, do đó họ trở thành đàn bà. Những người đàn ông đàn bà này vây quanh Nữ Oa nhảy múa, reo hò, mang lại sức sống cho Mặt Đất.
Nữ Oa muốn để loài người phân bố khắp nơi trên Mặt Đất, nhưng bà đã mệt, làm đã chậm hơn trước. Do đó, bà nghĩ ra một cách làm nhanh chóng. Bà cầm một sợi dây rơm cỏ thả xuống đáy hồ ngoáy trong bùn, cho đến khi đầu dây dính đầy bùn liền vung lên, cho bùn tung toé ra khắp nơi, những đám bùn đó biến thành những người nhỏ. Nữ Oa đã như vậy sáng tạo ra mọi người phân bố rộng trên Mặt Đất.
Trên Mặt Đất đã có loài người, công việc của thần Nữ Oa hầu như có thể chấm dứt rồi. Nhưng bà lại có một ý nghĩ mới: Làm thế nào mới khiến con người có thể sinh sống tốt được? Người cuối cùng thế nào cũng chết, chết đi một số, lại làm ra một số, như vậy thì phiền quá. Do đó, thần Nữ Oa liền ghép cặp đàn ông đàn bà với nhau, dạy họ sinh con đẻ cái, gánh vác trách nhiệm nuôi dưỡng đời sau. Loài người đã sinh sôi nảy nở như vậy, và ngày càng tăng lên.




Chuyện Ngưu Lang Chức Nữ



Ngưu Lang là một chàng trai chưa vợ nhà nghèo nhưng lúc nào cũng vui vẻ, sống nương tựa với anh là một con trâu già, một chiếc cày. Ngưu Lang hàng ngày ra đồng làm việc, sau khi về nhà tự mình nấu ăn giặt quần áo, cuộc sống rất gian khổ. Nào ngờ có một ngày, kỳ tích đã xảy ra.
Ngưu Lang làm xong việc đồng về nhà, bước chân vào nhà, chàng thấy trong nhà gọn gàng sạch sẽ, quần áo giặt xong thơm tho, trên bàn còn sắp sẵn cơm nóng canh ngon. Ngưu Lang kinh ngạc trợn tròn đôi mắt, bụng nghĩ: Cớ sao như vậy ? có lẽ thần tiên xuống trần chăng ? Ngưu Lang nghĩ mãi không tìm ra đáp án.
Sau đó, liền mấy ngày, ngày nào cũng vậy, Ngưu Lang không kìm nổi tính tò mò, anh nhất định phải tìm ra đáp án vì sao lại như vậy. Hôm đó, Ngưu Lang cũng như ngày thường, sáng sớm ra cửa, anh ra khỏi nhà không bao xa thì tìm chỗ trốn lại, rình xem động tĩnh trong nhà.
Không bao lâu, có một cô gái rất xinh đến nhà. Cô vào đến nhà liền bắt đầu bận công việc bếp núc gia đình. Ngưu Lang không kìm nổi sự tò mò, liền từ chỗ trốn bước ra hỏi: “Xin hỏi vì sao cô đến giúp tôi làm việc nhà ?” Cô gái cũng bị bất ngờ, đỏ mặt nhỏ nhẹ nói: “Tôi là Ngưu Nữ, thấy cuộc sống của anh quá khổ, nên đến giúp anh.” Ngưu Lang mừng rỡ, mạnh dạn nói: “Thế thì em lấy anh đi, chúng ta cùng sống và làm việc với nhau.” Ngưu Nữ nhận lời. Từ đó Ngưu Lang Chức Nữ trở thành vợ chồng. Hàng ngày Ngưu Lang ra đồng làm việc, Chức Nữ ở nhà dệt vải, cơm nước, cuộc sống rất mỹ mãn.
Được vài năm, họ sinh được hai đứa con một trai một gái, cuộc sống gia đình rất đầm ấm.
Có một hôm, bầu trời bỗng nhiên mây đen tối nghịt, gió to nổi lên, có hai vị Thiên Tướng đến nhà Ngưu Lang. Ngưu Lang được biết: Chức Nữ là cháu gái ngoại của Thiên Đế. Mấy năm trước bỏ nhà ra đi, Thiên Đế luôn tìm Chức Nữ. Hai vị Thiên Tướng bắt Chức Nữ mang lên Trời.
Ngưu Lang ôm hai đứa con nhỏ, nhìn vợ bị bắt buộc phải về Trời, lòng vô cùng đau đớn. Chàng thề phải lên Trời tìm Chức Nữ trở về, cả nhà đoàn tụ. Thế nhưng người trần làm sao lên được Trời ?
Trong lúc Ngưu Lang đau buồn, con Trâu già từng sống nương tựa với chàng bỗng nhiên nói: “Ông giết tôi đi, rồi khoác da tôi thì có thể lên Thiên Cung tìm Chức Nữ.” Nói thế nào Ngưu Lang cũng không chịu làm như vậy, nhưng không bác lại được, lại không có cách nào khác, đành phải nén nhịn sự đau khổ, làm theo lời nói của Trâu.
Ngưu Lang khoác da Trâu già, lấy quang gánh gánh hai đứa con bay lên Trời. Nhưng trong Thiên Cung canh phòng nghiêm ngặt, không ai để ý đến người Trần nghèo khổ. Thiên Đế cũng không cho Ngưu Lang gặp Chức Nữ.
Qua nhiều lần khẩn cầu của cha con Ngưu Lang, cuối cùng Thiên Đế đồng ý cho gia đình họ sum họp trong thời gian ngắn. Chức Nữ bị giam thấy chồng và các con, vừa mừng vừa tủi. Thời gian rất nhanh trôi qua, Thiên Đế ra lệnh mang Chức Nữ đi. Ngưu Lang đau khổ mang theo hai đứa con đuổi theo Chức Nữ, mấy lần bị ngã, mấy lần bò dậy đuổi theo, khi sắp đuổi đến kịp, nào ngờ Thiên Hậu ác nghiệt rút chiếc trâm vàng trên đầu vạch một cái, tức thì hiện ra một dải Ngân Hà rộng ngăn cách họ. Từ đó, Ngưu Lang và Chức Nữ chỉ được đứng ở hai đầu Ngân Hà nhìn nhau. Chỉ có ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch hàng năm, Ngưu Lang và Chức Nữ mới được phép gặp nhau một lần. Đến lúc đó, hàng nghìn hàng vạn con chim Khách bay đến, bắc thành một chiếc cầu Khách dài nối liền hai bờ Ngân Hà, để gia đình Ngưu Lang Chức Nữ sum họp với nhau.

View more the latest threads: